Chế Độ:  
 
Tìm kiếm site www
 
 
01 Tháng Mười Một 2014
Huy chương

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Liên kết website
Số lượt truy cập
Có lỗi xảy ra.
Lỗi: Số lượt truy cập hiện chưa có.

Liên hệ
Cty CP Đường Biên Hòa 

Trụ sở chính :

ĐC : Khu CN Biên Hòa 1, Đồng Nai
ĐT : 061 3836199
Fax : 061 3836213
Email : bhs@bhs.vn
Quản lý nông nghiệp - Khuyến nông

a. Đất đai

CÁC LOẠI ĐẤT CHÍNH CẦN LƯU Ý TRONG NÔNG NGHIỆP
 
I. ĐẤT CHUA:
1. Định nghĩa
Đất chua là các loại đất có pH thấp (pHH2O<6), đất có yếu tố bất lợi chính trong sản xuất nông nghiệp là độ chua của đất. Tùy thuộc vào giá trị pH, các loại đất chua được chia thành các loại:
Stt
pH
Mức độ chua
1
>5,5-6
Chua ít (yếu)
2
>5-5,5
Chua trung bình
3
>4,5-5
Chua nhiều (mạnh)
4
<4,5
Chua rất mạnh (cực chua)
 
2. Các biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng đến độ chua của đất:
Khi đất canh tác trong một thời gian dài sẽ làm cho độ chua của đất càng tăng do các bases trong đất mất dần do rửa trôi, xói mòn, cây trồng hấp thu nhưng không được trả lại cho đất. Ngoài ra, trong canh tác, khi sử dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác sau có thể thúc đẩy quá trình làm giảm pH đất:
a. Bón chất hữu cơ chua:
Sự phân giải chất hữu cơ giải phóng rất nhiều acid hữu cơ và vô cơ nên sẽ làm giảm pH, nhất là các chất hữu cơ có tính chua như lá thông, than bùn. Nhưng có một số chất hữu cơ có thể làm tăng pH như phân gia cầm.
b. Các hóa chất vô cơ/phân hóa học có tính chua:
Ngoài chất hữu cơ chua, các hóa chất vô cơ chua như FeSO4 có thể làm giảm pH. Các hóa chất này sẽ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, đồng thời giải phóng H+ làm giảm pH đất theo các phản ứng sau:
Fe2+ + 2H2O = Fe(OH)3 + 2H+
4Fe2+ + 6H2O + O2 = 4Fe(OH) + 4H+
Một hóa chất khác cũng có thể làm giảm pH đất là lưu huỳnh nguyên tố:
2S + 3O2 + 2H2O = 2H2SO4
3. Biện pháp cải thiện độ chua của đất: bón vôi cải tạo đất chua.
Để làm giảm độ chua của đất, thường người ta dùng các vật liệu có chứa vôi, có tính kiềm như CaCO3, Ca(OH)2, CaO, CaMg(CO3)2….
a. Sự cần thiết phải bón vôi cho đất:
Ca và Mg sẽ dần dần bị mất theo thời gian do thực vật rửa trôi… nên độ bão hòa base và pH ngày càng giảm thấp, nhất là các vùng nhiệt đới ẩm. Do đó, cần thiết phải bón vôi theo chu kỳ nhất định cho các vùng đất này nhằm duy trì hàm lượng Ca, Mg, pH và độ bão hòa base cho đất.
 
b. Nhu cầu vôi-lượng vôi cần bón để trung hòa độ chua:
Nhu cầu vôi là lượng vôi cần thiết bón cho đất nhằm nâng pH lên một giá trị mong muốn (thích hợp cho loại thực vật nhất định). Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vôi của đất như:
- Nhu cầu thay đổi pH: pH này phụ thuộc chủ yếu vào loài thực vật.
- Khả năng đệm của đất: đất có khả năng đệm càng cao, nhu cầu vôi bón càng cao.
- Thành phần hóa học của loại vôi: thành phần hóa học sẽ ảnh hưởng đến thời gian ảnh hưởng của các loại vôi.
- Độ mịn của vôi: vôi càng mịn, tốc độ phản ứng trung hòa độ chua càng nhanh.
4. Một số phương hướng sử dụng đất chua nhiệt đới:
Canh tác cây trồng cạn, trồng rừng. Do rửa trôi mạnh nên trong canh tác cần thiết đưa cây họ đậu vào hệ thống luân canh nhằm duy trì hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng cho đất. Ngoài ra, cần chú ý đến các biện pháp kỹ thuật sau:
- Chống xói mòn đất.
- Duy trì chất hữu cơ cho đất.
- Bón phân hợp lý.
- Tưới tiêu hợp lý.
 
II. ĐẤT PHÈN:
1. Định nghĩa:
Đất phèn là các loại đất có tầng sulfuric (tầng phèn) hay tầng chứa vật liệu sinh phèn (tầng sulfidic) hoặc chứa cả 2 tầng trên trong phẫu diện đất.
2. Quá trình hình thành:
- Đất phèn thường hình thành ở những nơi có địa hình thấp, có thời gian dài chịu ảnh hưởng của nước biển xâm nhập. Đây là nơi tích lũy các trầm tích biển, thảm thực vật là sú, vẹt, đước.
- S trong xác bã hữu cơ (nhiều nhất trong xác bã sú, vẹt, đước…) được vi sinh vật phân giải trong điều kiện yếm khí hình thành H2S. Trong điều kiện có hàm lượng sắt cao:
H2S + Fe(OH)3 = FeS.nH2O hay FeS2.nH2O

Khi đất bị khô (có sự xâm nhập của oxygen), pyrite sẽ bị oxy hóa do các vi khuẩn phân giải S như Thiobacillus thiooxidans hình thành nên sulfuric acid:

 

Và khi có sự hiện diện của vi khuẩn Thiobacillus ferroxydans, FeSO4 sẽ bị oxy hóa rất nhanh hình thành Fe3+:

         Fe3+ sẽ phản ứng nhanh với FeS2 để hình thành nên nhiều sulfuric acid hơn nữa:

Nếu môi trường đầy đủ oxygen, Fe2+ tiếp tục bị oxy hoá, kết hợp với kali hình thành phèn sắt kali jarosite có đốm vàng.

 

Khoáng jarosite không chua nhưng quá trình hình thành jarosite gây chua.
 
3. Nhận diện đất phèn:
- Cách đơn giản nhất để nhận diện đất phèn là xem xét bề mặt đất-nước và các loại cây chỉ thị đất phèn.
- Đất-nước bị nhiễm phèn sắt-nhôm thì trên bề mặt có biểu hiện đóng váng màu đỏ- trắng.
- Các loại cỏ chỉ thị đất phèn: cỏ năng, lác.
 
 
4. Một số đặc điểm của đất phèn:
a. Tính chất vật lý:
- Gần 100% đất phèn hình thành trên đất có sa cấu nặng (tức sét >40%).
- Cấu trúc kém hoặc không có cấu trúc.
- Mặc dù có hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng do trong điều kiện chua và yếm khí nên hầu hết chất hữu cơ phân giải rất kém, phân giải không hoàn toàn. Vì vậy hàm lượng chất hữu cơ trong đất cao nhưng hàm lượng mùn thấp, thể hiện bằng tỷ số C/N cao(C/N > 25).
- Cũng chính vì trong đất ngập nước và đất chua, phần lớn hoạt động phân giải của vi sinh vật tham gia rất kém, có khi không có, nên đất phèn rất chậm hình thành cấu trúc của nó.
b. Tính chất hóa học:
- Bất lợi đầu tiên của đất phèn là chứa hàm lượng H2SO4 quá cao, do đó pH thấp (khoảng 3,5 ở tầng phèn), và chính acid này phá vỡ cấu trúc của khoáng sét để giải phóng nhôm. Nguyên tố có hàm lượng cao nhất trong đất phèn là H+, SO và Al3+, nếu nó hòa tan với hàm lượng cao thì không có cây trồng nào sống nổi.
- Một bất lợi nữa của đất phèn là hàm lượng các chất dinh dưỡng tổng số tuy cao nhưng khả năng hữu dụng rất thấp (đặc biệt là lân).
- Do có sa cấu sét và hàm lượng chất hữu cơ cao nên CEC cao, tính đệm pH rất cao (rất khó để cải thiện pH đất).
c. Tính chất sinh học:
- Hầu hết các vi sinh vật hoạt động trong đất phèn là những sinh vật không có ích cho sự chuyển hóa các chất dinh dưỡng cho cây trồng, nếu có thì cũng không đáng kể. Chủ yếu là vi khuẩn Thiobacillus tham gia vào quá trình chuyển hoá lưu huỳnh.
d. Kết luận:
Qua các đặc điểm trên, có thể thấy, trở ngại chính của đất phèn trong sản xuất nông nghiệp bao gồm:
- Đất cực chua
- Nồng độ độc chất cao (Al3+, Fe2+, SO)
- Hàm lượng lân hữu dụng thấp.
5. Sử dụng và các biện pháp cải tạo đất phèn:
Hầu hết cây trồng đều phát triển bình thường ở pH>5 mà đất phèn hoạt động có pH=3,5. Vì vậy, để cải tạo và sử dụng đất phèn, cần áp dụng các biện pháp sau đây:
a. Hạn chế gây chua:
- Chúng ta thấy FeS2 không chua + O2 ---> chua
- Để phản ứng gây chua không xảy ra phải ngâm ruộng liên tục! Mà ngâm ruộng lâu ngày sẽ hình thành H2S, H2S tồn tại với lượng cao sẽ gây độc cho cây, và toàn bộ sắt sẽ bị khử về Fe2+, ở nồng độ cao thì chính Fe2+ cũng gây độc cho cây.
- Do đó, biện pháp làm ngập tốt nhất là chỉ ngập 1-2 vụ sau đó tháo rửa cho khô rồi cho nước vào.
b. Rửa phèn:
- Cho nước vào ngâm trong ruộng ---> tháo bỏ ---> lại cho nước vào, cho đến khi pH tăng.
- Tuy nhiên, có rửa tối đa pH cũng chỉ tăng đến 4,5 bởi vì tính đệm của đất phèn rất cao, nên nước ngọt khó rửa hết những ion hấp phụ lên bề mặt sét (lực hấp phụ rất mạnh). Nhưng dùng nước lợ có hàm lượng cation trong muối cao thì pH tăng nhanh vì nước có hàm lượng cation trong muối cao sẽ đẩy Al trong đất phèn ra và Na thế chỗ trong keo sét.
c. Làm đất:
Có hai khuynh hướng: làm đất nhuyễn và làm đất to.
* Nếu đủ nước rửa thì nên làm nhuyễn, chỉ một vụ là có thể rửa hết phèn
* Nếu không đủ nước thì nên làm đất to (1-5cm) sẽ hạn chế xì phèn
Ngoài ra, có thể tiến hành cày không lật nhằm thỏa mãn các yêu cầu làm đất mà vẫn đảm bảo yêu cầu “hạn chế xì phèn”.
d. Chọn giống chịu phèn:
- Đa số cây chịu được phèn là cây 1 lá mầm. Dứa, mía là những loại cây trồng có tính kháng phèn cao (so với các cây trồng khác). Ở pH xấp xỉ 4, hai loại cây trồng này vẫn có thể sinh trưởng bình thường.
e. Lên liếp:
Khi lên liếp, đất trên mặt sẽ hình thành tầng A1 mới và tầng A cũ bị chôn vùi gọi là A2.
  
 
 
 
 

 

(1): Sai! Vì mương xắn xuống tầng phèn, nước chua. Lúc này, tầng A1 sẽ là tầng chứa vật liệu sinh phèn (hiện tượng xì phèn).
(2): Đúng! Vì chỉ đào hết tầng A cũ, đào mương rộng, tầng đất mới sẽ dày hơn và hệ số sử dụng đất sẽ cao hơn, một mương một liếp là tốt nhất, mương rộng sẽ dùng nuôi cá đồng.
f. Kỹ thuật bón phân:
- Nên bón vôi và các vật liệu có chứa vôi để làm tăng pH và giảm độ độc của nhôm
- Thường, bón phân lân nung chảy có thể đạt hiệu quả cao trên đất phèn.
* Chú ý: Mọi biện pháp cải tạo đều phải tính đến hiệu quả kinh tế! Nếu không hiệu quả kinh tế thì đừng ép buộc phải cải tạo bằng cách này hay cách khác.
 
III. ĐẤT MẶN:
   - Thực chất, đây là một nhóm đất có đặc điểm chung là chứa nhiều muối hòa tan. Vì vậy, Thái Công Tụng (Thổ nhưỡng học đại cương, 1971) đã gọi đây là nhóm đất muối. Nhóm đất này bao gồm 3 loại đất:
   + Đất mặn: chứa nhiều muối trung tính hòa tan, pH<8,5
   + Đất mặn kiềm: chứa nhiều muối trung tính hòa tan, tỷ lệ muối Na+ cao.
   + Đất kiềm: chứa ít muối trung tính hòa tan, tỷ lệ muối Na+ cao, pH>8,5
Bài này chỉ đề cập đến loại đất đầu tiên: đất mặn.
1. Định nghĩa:
   Đất mặn là loại đất chứa nhiều muối trung tính hòa tan và có pH <8,5.
2. Quá trình hình thành:
a. Sự tích tụ muối tự nhiên:
- Thường loại đất này hình thành trên các vùng khô hạn hoặc bán khô hạn, nơi lượng nước bốc thoát hơi cao hơn lượng mưa và hiện tượng tích tụ muối tự nhiên thường xuyên xảy ra. Các muối này chủ yếu là dạng Cl-, SO với các cation Ca2+, Mg2+, K+, Na+. Chúng có thể hình thành từ quá trình phong hóa đất và khoáng, hay được mang vào đất do mưa, tưới nước.
- Nguồn tích lũy muối quan trọng khác là các vùng biển cũ trong lục địa, các mạch nước ngầm nhiễm mặn.
b. Mặn hóa do tưới tiêu không thích hợp:
Ngoài việc tích tụ trong đất do các tiến trình tự nhiên, muối cũng có thể tích tụ do quá trình tưới không hợp lý: tưới nước bị nhiễm mặn và không tiêu nước tốt.
3. Nhận diện đất mặn:
- Ở đất mặn, các muối hòa tan thường tích tụ ở mặt đất do sự bốc hơi nước, hình thành những lớp muối trắng trên lớp đất mặt (chính vì vậy mà loại đất này còn có tên gọi là đất kiềm trắng).
- Tuy nhiên, để việc nhận diện được chính xác, tốt nhất là gửi mẫu đến các trung tâm phân tích. Nếu đất thỏa mãn các điều kiện sau thì đó chính là đất mặn:
+ Độ dẫn điện của dịch trích bão hòa (ECse):          > 4mS/cm
+ Phần trăm Natri trao đổi (ESP):                           <15%
+ pH:                                                                    <8,5
 
- F.A.O phân cấp độ mặn của đất như sau:
 
Stt
Loại đất
EC (mS/cm)
TDS (%)
1
Không mặn
<4
<0,15
2
Mặn ít
4-8
0,15-0,35
3
Mặn trung bình
8-15
0,35-<0,65
4
Mặn nhiều
>15
>0,65
Ghi chú: TDS (Total Dissolved Salt): Tổng lượng muối hòa tan.
 
 
4. Sử dụng và các biện pháp cải tạo đất mặn:
Bất lợi lớn nhất của đất mặn là nồng độ các muối hòa tan trong đất cao. Nồng độ muối hòa tan cao tạo nên áp suất thẩm thấu dung dịch đất cao làm rễ thực vật bị mất nước, do đó làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của thực vật. Do đó, các biện pháp cải tạo chủ yếu đối với đất mặn bao gồm các biện pháp sau:
a. Rửa mặn:
Dẫn nước vào ruộng mía để cho các muối bị trực di xuống sâu. Đồng thời, phải thực hiện tiêu thoát nước để “rửa” bớt các muối hòa tan trong đất. Khi tiến hành rửa mặn phải lưu ý một số điểm sau:
- Dẫn nước ít nhưng nhiều lần để tăng hiệu quả của việc rửa mặn.
- Sự trực di chỉ hiệu nghiệm khi mức thủy cấp không quá gần mặt đất. Do đó, nếu cần thì phải đào thêm mương rãnh để nước có thể thoát ra dễ dàng.
b. Kỹ thuật canh tác:
Làm đất to. Đất càng to càng tốt để hạn chế sự mao dẫn từ dưới lên.
c. Bón muối Ca:
Bón muối Ca để vừa làm giảm nồng độ Na vừa điều chỉnh pH của đất.
- Đối với đất mặn phèn (pH thấp), bón muối kiềm CaCO3
- Đối với đất mặn có pH xấp xỉ 8,5: bón thạch cao. Tuy giá thạch cao đắt hơn vôi rất nhiều nhưng nếu bón vôi sẽ làm tăng pH đất.
 

 g. Bảo vệ thực vật

 

SP ĐẶC BIỆT
RE đặc biệt
Đường tinh luyện BienHoa Pure
 
  Bản quyền (c) 2014 Công ty CP Đường Biên Hòa
Designed and Powered by EQ